March 14, 2007

Le papillon blanc

A la recherche de la sépulture de l'oncle Cương, à Yên Bái

"Un papillon blanc vous montrera le chemin, il vous conduira vers l'endroit où j'ai été enterrré. "

Paroles de l'oncle Cương , qui s'est manifesté en 2005, par l'intermédiaire d'une médium.

En creusant la terre à cet endroit, on a retrouvé des os et les talons ses bottes.

(Raconté par chi Thu).

March 02, 2007






Années 45-46. Les patriotes dans la famille:
Cơ, Cưong, Trinh, Lộc, Thanh, bác Cả, bác Khương, chị Thu.
Tante Lan et tante Thanh avaient le plus de mérite, et ensuite bác Cả et bác Lộc.
Elles passaient la nuit à coudre le premier drapeau rouge à étoile jaune, pour la manifestation le lendemain à l'Hôtel de Ville de Hanoï.
C'était le premier drapeau, il était TRES GRAND.
==
Thời đó ( năm 1945- 1946)
ba +chú Cương + chú Trinh+ bác Lộc + bác Thanh + bác Cả +
bác Khương và ngay cả chị nữa :
LE PATRIOTISME BRULAIT DANS NOS COEURS ET COULAIT
DANS NOS VEINES

Chị còn nhỏ , hồi đó bác Thanh và bác Lan là 2 người
nhiều công nhất rồi bác Cả + Bác Lộc thức suốt cả đêm
đê ngồi may lá cờ đỏ sao vang đầu tiên để sáng hôm sau
đi biểu tinh và mang treo ở nhà hát lớn, Hanoi.
Chị còn nhó la cờ đầu tiên và nó RẤT LỚN .

(message de chị Thu à A)

September 19, 2006

Photos de la tombe de l'oncle Cương




Les bâtons d'encens se sont consumés jusqu'au bout...
preuve qu'il s'est manifesté ?

April 24, 2005

Trinh, Chinh



Fils aîné de mme Cẩm, la 1ère concubine du mandarin.
Elève brillant, a réussi le bac.
Habite à Hàng Bún Trên, Hanoï avec sa mère.
Suit sa mère à Hải Dương.
Mme Cẩm faii du commerce et gagne bien sa vie.
Trinh l'accompagne de nouveau à Yên Báy.

Trinh s'engage ensuite dans la résistance
contre l'administration française.
Il se porte volontaire, se sacrifie pour le pays:
Il se lance dans les barbelés avec une bombe
(bom ba càng) pour ouvrir une brèche à l'assaut du camp français.


(Ecrit par Bac Lan en vietnamien)







April 19, 2005

Q. Trân (1921-1946)





Il s'occupait des mendiants au camp de Giáp Bát, près de Hanoi pendant la famine de l'année du Coq 1945.
S'est engagé ensuite dans la milice d'auto -défense de Hanoi, contre l'administration française.
A disparu dans le tourbillon de la guerre.

On raconte qu 'on l'avait frappé à la tête avec un marteau, mis dans un sac avec un pavé de pierre  et jeté dans le Fleuve Rouge, par dessus le pont Doumer.

Une photo du Pont Doumer (1955)


(photo Frassati, site nguyentl)


le pont Doumer en 1915 (photo internet)

Lycée Yersin, Dalat



Montage photo+carte postale: 05-2009.
A

April 17, 2005

Combien de jeunes...

Combien de jeunes gens et de jeunes filles se sont-ils sacrifiés pour leur pays?
Ce poème est dédié à Q. Cương, tombé dans une bataille contre le Viet Minh en 1946 à Yên Bái, Nord Vietnam.


Kính dâng em Cương đã chiến đấu Việt Minh và đã chết oanh liệt tại Yên Bái trong
một trân giao phong với một bọn vô Tổ Quốc, vô Gia Đình, vô Tôn Giáo.

Bao nam nữ, vì NHÂN mà đã chết.
Đây tinh hoa dân Hồng Lạc muôn đời.
Nghe sông núi, tiếng gọi kêu tha thiết
Đoàn Thanh Niên đứng dậy đáp ngay lời.

Đứng dậy ! Đã bao lâu ta chờ đợi.
Máu nổi sôi, ta nén đã bao lần.
Răng ta nghiến để mong chờ cơ hội
Cứu non sông và giải thoát muôn dân.

Đây bao ngực sẵn sàng chờ súng đạn.
Hai tay trơn , ta đánh trả thần công.
Ta cười mỉm, cho đời xem bạo dạn,
Xem mưu cơ và biết chí anh hùng.

Đây oanh liệt, hiến cho Trời, Đất, Nước
Ôi! Trắng trong: hoa huệ trước bàn thờ
Những cây luá, ngả nằm không đếm được ,
Mình Thanh Niên, đây lễ vật đơn sơ.

Ta thành kính dâng quê cha đất tổ
Cả đời ta, như vừng nguyệt đêm rằm.
Ta chỉ tiếc khi xương tàn thịt đổ,
Có một đời , không hiến được hai lần!

Lớp nọ ngã, lớp kia bèn tiếp đến,
Như sóng dồi, trên mặt bể mênh mông.
Ôi! Nước Việt, đau thương và yêu mến!
Các con Ngươi, xót mẹ biết bao chừng!

Ta trả lại cho đồng quê sức mạnh,
Khí anh hùng đọng lại những ngày xanh.
Chỉ lên vút như chim bằng cất cánh,
Bao tinh hoa, sông núi kết nên thành!

Đất mòn mỏi, vì máu hồng tưới dội,
Sẽ hồi xuân và dân tộc tái sinh.
Trong sự chết, ta khơi nguồn sống mới:
Giống Lạc Hồng muôn thuở vẫn tinh anh.

Xuân Việt
Trích tập thơ Tao Phùng, xuất bản năm 1955 tại Sài Gòn.